Trước khi mang thai chúng ta cần phải làm những xét nghiệm gì?

Trước khi mang thai chúng ta cần phải làm những xét nghiệm gì?

Có 1 số xét nghiệm và quy trình bạn cần làm trước khi mang thai. Mang thai có thể là 1 quá trình đơn giản: Tinh trùng gặp trứng và chín tháng sau em bé chào đời, tuy nhiên bạn phải trải qua rất nhiều các xét nghiệm, thậm chí trước khi mang thai. Kiểm tra sức khỏe và miễn dịch có thể lấn áp, nhưng điều quan cần ghi nhớ là bạn làm tất cả chỉ với mong muốn bạn và con bạn sinh ra khỏe mạnh nhất có thể.

Kiểm tra trước khi mang thai

Trước khi bạn có ý định mang thai, bạn cần đặt lịch khám với bác sỹ. Bạn nên chuẩn bị kể về tiểu sử sử dụng thuốc của gia đình cũng như lịch sử y khoa, thuốc bạn đang dùng và lối sống. Điều này sẽ giúp bác sỹ đưa ra các xét nghiệm mà bạn cần tiến hành.

Lối sống lành mạnh bao gồm chế độ ăn uống và tập thể dục đặc biệt quan trọng trong suốt quá trình mang bầu. Nếu bạn thừa cân, bác sỹ sẽ khuyên bạn thay đổi chế độ ăn và tập thể dục nhiều hơn, thậm chí giảm một lượng nhỏ cân nặng cũng đem lại ảnh hưởng tích cực đến khả năng sinh sản và giúp bạn khỏe mạnh trong suốt thai kỳ.

Bác sĩ cũng có thể làm xét nghiệm máu cơ bản và xét nghiệm nước tiểu cho các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác nhau, xem lại hồ sơ chủng ngừa của bạn và thử nghiệm cho một số miễn dịch nhất định.

Vắc xin

Chức năng miễn dịch của bạn có thể suy giảm trong quá trình mang thai, làm cho các bà mẹ tương lai dễ bị nhiễm trùng và biến chứng hơn.Tiêm vắc xin là cách ngăn cản hoặc giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh cho bản thân bạn hoặc em bé trong thai kỳ.

Mũi tiêm cảm cúm luôn được bác sỹ khuyến cáo cho phụ nữ mang thai trong mùa cảm, đó là một ý tưởng hay nếu bạn đang cố gắng thụ thai để bảo vệ bạn trong những tuần đầu sau khi bạn có thể không biết rằng bạn đang mang thai (Chích ngừa cúm cũng an toàn cho phụ nữ có thai)

Các loại vác-xin như bệnh thủy đậu (varicella) và sởi (sởi Đức) không được đặt ra trong thời gian mang thai, do đó khuyên bạn nên chủng ngừa và nếu cần thiết, hãy chủng ngừa trước khi bắt đầu mang thai. Điều quan trọng cần ghi nhớ là bạn cần phải đợi ít nhất một tháng sau khi tiêm chủng mới được có thai.

Bệnh thủy đậu có thể không phải là một vấn đề lớn, nhưng phụ nữ mang thai có nguy cơ cao bị biến chứng viêm phổi. Nếu phụ nữ mang thai bị thủy đậu từ 8 đến 20 tuần tuổi, bé sẽ có nguy cơ bị hội chứng thủy đậu bẩm sinh, có thể gây ra sẹo da, tay và chân không phát triển, viêm mắt và các vấn đề về sự phát triển của não.

Bệnh sởi có thể có những hậu quả nghiêm trọng hơn: Có nguy cơ sảy thai, thai chết lưu và sinh non, và nếu sởi bị lây sang thai nhi thì sẽ có nguy cơ nhỏ bé sinh ra với nhiều vấn đề, bao gồm thị lực và thính giác các vấn đề tổn thương tim, tổn thương gan nhỏ và lá lách.

Nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục

Có một số bệnh lây truyền qua đường tình dục có thể dẫn đến vô sinh hoặc ảnh hưởng đến sức khoẻ hoặc tình trạng sức khoẻ của bé trong thời kỳ mang thai, vì vậy nếu bạn có nguy cơ cao, bạn nên kiểm tra trước khi có ý định mang thai.

Cả hai bệnh chlamydia và lậu thường không được chẩn đoán vì nhiều người mắc các chứng bệnh này không có triệu chứng. Cả hai loại nhiễm trùng đều có thể làm hỏng ống dẫn trứng và dẫn tới bệnh viêm vùng chậu, có thể gây vô sinh. Những bệnh này cũng có thể ảnh hưởng đến thai kỳ và thai nhi. Chlamydia có thể gây sinh sớm, và nếu nhiễm trùng truyền sang em bé trong khi sinh, trẻ sơ sinh của bạn có thể bị nhiễm trùng mắt hoặc viêm phổi. Bệnh lậu có thể dẫn đến sảy thai, vỡ màng non và sinh non, và nếu truyền đến trẻ sơ sinh trong lúc sinh, có thể dẫn đến nhiễm trùng máu ở mắt, khớp hoặc đe doạ đến mạng sống của bé. Trong khi bệnh Chlamydia và lậu có thể được chữa khỏi bằng thuốc kháng sinh, việc điều trị không thể chữa được các tốn thương di tật đã bị trước đó.

Bệnh giang mai cũng có thể có những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ trong thai kỳ. Nếu được chẩn đoán sau 20 tuần, nguy cơ sinh non và thai nhi tăng lên, và trẻ sơ sinh bị bệnh giang mai có thể bị các vấn đề sức khoẻ nghiêm trọng như tổn thương não, thính giác và mất thị lực. Nhưng nếu bạn được điều trị trước 20 tuần, nguy cơ lây nhiễm sang bé sẽ giảm bớt. Cũng như bệnh Chlamydia và lậu, giang mai có thể được điều trị bằng kháng sinh.

Tương tự, HIV có thể lây truyền qua em bé, mặc dù việc lây truyền có thể xảy ra trong bất kỳ giai đoạn nào của thai nghén, chuyển dạ cũng như trong thời gian cho con bú. Chẩn đoán sớm và điều trị có thể giúp làm giảm nguy cơ lây truyền từ mẹ sang con. Kết hợp với việc điều trị cho đứa trẻ trong suốt bốn đến sáu tuần đầu tiên của cuộc đời, nguy cơ giảm thấp đến một phần trăm.

Cuối cùng, bạn nên được kiểm tra viêm gan B trước khi mang thai, vì viêm gan B có thể truyền cho em bé trong khi sinh. Trẻ sơ sinh bị nhiễm khi sinh có thể bị viêm gan loại B mãn tính, có thể gây ra các vấn đề về sức khoẻ suốt đời, nhưng điều này có thể ngăn ngừa được nếu trẻ được điều trị bằng một loạt tiêm chủng và tiêm globulin miễn nhiễm viêm gan B vào lúc sinh. Nếu bạn chưa được chủng ngừa bệnh viêm gan B, hãy nói chuyện với bác sĩ về việc tiêm phòng – bạn có tiêm an toàn vào bất kỳ thời điểm nào trước hoặc trong khi mang thai.

Xét nghiệm di truyền
Tuổi, tiền sử gia đình và nguồn gốc là những yếu tố khiến con bạn sinh ra có điều kiện di truyền, một số trong đó có thể làm giảm chất lượng và tuổi thọ của đứa trẻ.